Loét tỳ đè là một biến chứng thường gặp ở người bệnh nằm lâu, đặc biệt trong các khoa hồi sức và chăm sóc dài hạn. Tình trạng này không chỉ gây đau đớn, nhiễm trùng mà còn làm kéo dài thời gian điều trị và tăng chi phí y tế. Bài viết nhằm phân tích vai trò của điều dưỡng trong đánh giá và chăm sóc vết loét tỳ đè, từ đó đề xuất các biện pháp cải thiện hiệu quả điều trị.

Loét tỳ đè (pressure ulcer) là tổn thương da và mô dưới da do áp lực kéo dài, thường xuất hiện ở các vùng có xương nhô ra như xương cùng, gót chân, khuỷu tay và vai. Người bệnh, nằm bất động trong thời gian dài là đối tượng có nguy cơ cao. Đây là một trong những chỉ số phản ánh chất lượng chăm sóc điều dưỡng tại bệnh viện. Với sự gia tăng bệnh nhân cao tuổi và bệnh lý mạn tính, tỷ lệ loét tỳ đè ngày càng đáng quan tâm. Việc phòng ngừa và chăm sóc vết loét đòi hỏi sự theo dõi chặt chẽ và can thiệp kịp thời của điều dưỡng.

BẢNG SO SÁNH 4 GIAI ĐOẠN LOÉT TỲ ĐÈ

Tiêu chíGiai đoạn 1Giai đoạn 2Giai đoạn 3Giai đoạn 4
Tổn thương daDa còn nguyên vẹnMất lớp thượng bì/1 phần trung bìMất toàn bộ daMất toàn bộ mô sâu
Biểu hiện chínhBan đỏ không mất màu khi ấnLoét nông, phồng rộp, trầy xướcHố loét sâu, thấy mô mỡLộ cơ, xương, gân
Độ sâuChưa mất môNôngSâu đến mô dưới daRất sâu
Màu sắcĐỏ hoặc sẫmHồng/đỏ, có thể có bóng nướcVàng/đỏ, có mô hoại tửĐen/vàng, hoại tử nhiều
ĐauCó thể đauĐau rõCó thể giảm đau nếu hoại tửCó thể không đau
Nguy cơ nhiễm trùngThấpTrung bìnhCaoRất cao
Khả năng hồi phụcTốt nếu phát hiện sớmTốt nếu chăm sóc đúngKhó hơnRất khó
Xử trí chínhGiảm áp lực, theo dõiChăm sóc vết thương, giữ ẩmCắt lọc mô hoại tửĐiều trị chuyên khoa, có thể phẫu thuật

Loét tỳ đè xảy ra khi áp lực kéo dài làm giảm tưới máu mô, dẫn đến thiếu oxy và hoại tử. Các yếu tố nguy cơ gồm:

  • Bất động kéo dài
  • Ma sát, trượt da
  • Ẩm ướt (tiểu tiện không kiểm soát)
  • Suy dinh dưỡng
  • Tuổi cao và bệnh lý nền

Điều dưỡng và bác sĩ cần đánh giá chính xác giai đoạn loét để tìm phương pháp điều trị phù hợp theo từng giai đoạn. Can thiệp kịp thời ngay từ giai đoạn xuất hiện cảnh báo sớm: ban đỏ tại vùng tỳ đè, không mất màu khi ấn (non-blanching erythema), ấn vào không trắng lại, đây là các dấu hiện cảnh báo sớm nhất của giai đoạn loét tỳ. Để nhận biết dấu hiệu sớm điều dưỡng cần theo dõi vùng da tỳ đè mỗi 2-4 giờ, dùng nghiệm pháp ấn kiểm tra blanching, đánh giá nguy cơ bằng thang điểm Braden.

Điều dưỡng giữ vai trò trung tâm trong phòng ngừa loét tỳ đè thông qua:

  • Theo dõi liên tục tình trạng da
  • Thực hiện xoay trở đúng kỹ thuật
  • Phối hợp dinh dưỡng và điều trị
  • Giáo dục sức khỏe cho người bệnh và thân nhân người bệnh

Phòng ngừa loét tỳ đè là một nhiệm vụ quan trọng và khả thi nếu thực hiện đúng và đầy đủ các biện pháp chăm sóc. Việc nâng cao kiến thức và kỹ năng của điều dưỡng sẽ góp phần giảm tỷ lệ loét tỳ đè, cải thiện chất lượng điều trị và chăm sóc người bệnh.

Tại Bệnh viện Hoàn Mỹ Cửu Long với đội ngũ nhân viên có nhiều kinh nghiệm về chăm sóc và điều trị, đã góp phần hạn chế tối đa tỷ lệ loét tỳ đè mới. Năm 2025 tại khoa Hồi sức chống độc (ICU) ghi nhận 11 trường hợp loét độ I và 01 trường hợp loét độ II, trên tổng 1275 ca bệnh điều trị tại khoa ICU. Bên cạnh đó giúp cải thiện tình trạng loét nặng khi nhập viện, độ III độ IV lên mô hạt, và lành vết loét. Bằng các thuốc dự phòng và điều trị vết loét như Sanyrene, Cavilon, Prontosan, Nacurgo, miếng dán Algoplaque, hoặc hệ thống VAC giành cho vết loét nhiễm trùng, có nhiều dịch tiết,… tùy tình trạng bệnh, tình trạng vết loét theo từng giai đoạn mà chúng tôi lựa chọn thuốc phù hợp cho người bệnh. Bên cạnh đó luôn có sự phối hợp của nhiều chuyên khoa BS.CKII Đỗ Văn Phẩm Trưởng khoa Hồi sức tích cực chống độc, BS.CKI Dương Hoàng Ngọc Duyên khoa Dinh dưỡng, BS.CKII. Nguyễn Minh Tuấn khoa Ngoại chấn thương nhằm giúp đẩy nhanh quá trình phục hồi vết loét cho người bệnh.

Bài viết được thực hiện bởi  ĐD. Đặng Thị Ngọc, Khoa Hồi sức tích cực & Chống độc, Bệnh viện Hoàn Mỹ Cửu Long.